Cơ
sở sản xuất bia ở Việt Nam rất nhiều, theo thống kê ở Việt Nam có khoảng 300 cơ
sở có thể sản xuất khoảng 1 triệu lít/năm, hơn 20 nhà máy có công suất trên 20
triệu lít/ năm. Như vậy có thể thấy ngành này đã phát triển rộng rãi góp phần
rất lớn vào Ngân sách Nhà Nước, đồng thời còn đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng trong nước.
Thế nhưng sự phát triển của ngành sản xuất
bia cũng đi kèm với những tác động xấu đối với môi trường nước vì chất thải của
việc sản xuất này thải ra có thể ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Trung bình để sản xuất 1000 lít bia thành phẩm
cần 4 đến 11m3 lít nước vì do đặc thù của ngành nên phải sử dụng lượng nước lớn.
Đó cũng là nguyên nhân làm lượng nước thải phát sinh ra nhiều hơn.
Các chỉ số BOD, COD, SS và hàm lượng chất hữu
cơ cao đều chứa trong nước thải sản xuất bia. Như vậy lượng nước thải này rất
nguy hại cần có biện pháp xử lý triệt để tránh ngộ độc môi trường biển, hủy hoại
sinh vật và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người.
Nước thải sản xuất bia có nguồn gốc từ nhiều
công đoạn khác nhau: đó là nước thải từ sinh hoạt cá nhân, rửa nguyên liệu, rửa
thùng chứa, thùng nấu, bể lọc thiết bị hoặc nước rửa chai, két đựng chứa chất độc
hại cao.
Hàm lượng chất hữu cơ, nitơ và phốt pho đa số
là đặc tính cơ bản của sản xuất bia. Vì lượng nước thải xả ra môi trường nước lớn
nên cần có công nghệ xử lý nước thải.
Mô hình MBBR, mô hình UAF và SBR, mô hình xử
lý theo hai bậc UASB + Aerotank là những mô hình thường sử dụng trong công nghệ
xử lý nước thải bia.
Công nghệ sản xuất bia có nhiều những ưu nhược
điểm:
Chẳng hạn: ưu điểm là lượng bùn tạo ra ít thu
được khí biogas có giá trị kinh tế, nước sau khi được xử lý đạt quy chuẩn cho
phép.
Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm đưa ra thì nhược
điểm của công nghệ này là thời gian xử lý lâu, cần có thời gian trong các
bể xử lý sinh học và người vận hành cần có trình độ nhất định và phù hợp hơn.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét